CHÂU CHẤU TRE Ceracris (Orthoptera: Acrididae) Ở VIỆT NAM
Ngày đăng : 14/11/2016

Phạm Văn Lầm

Hội Côn trùng học Việt Nam

Vấn đề mô tả đặt tên giống châu chấu tre Ceracris

Giống châu chấu tre Ceracris (Acrididae: Acridinae: Parapleurini) được Walker mô tả năm 1870 với một loài duy nhất là Ceracris nigricornis. Sự mô tả này rất không thỏa mãn và tên giống Ceracris không được thừa nhận trong một thời gian dài. Năm 1909, Bolivar đã mô tả giống này dưới một tên khác là Kuthya với hai loài (Duronia versicolor, D. deflorata) do Brunner mô tả, trong đó loài Duronia versicolor là tên khác của loài Ceracris nigricornis. Năm 1910, trong một danh lục côn trùng, Kirby hoàn toàn đúng khi đưa hai loài châu chấu (nêu trên) do Brunner mô tả về giống Ceracris, nhưng tác giả này vẫn không hay biết về tên giống Kuthya do Bolivar mô tả và ngay cả trong sách khu hệ của Ấn Độ xuất bản năm 1914 Kirby cũng vẫn bỏ sót tên giống Kuthya. Trong công trình này, Kirby đã mô tả lại giống Ceracris cùng các loài của giống, nhưng đã không nhận ra các tên versicolor, nigricornis là của cùng một loài và đã mô tả loài C. deflorata dưới tên Phlaeoba cinctalis. Cũng vào năm 1914, Bolivar đã công bố mô tả đầy đủ về giống Kuthya và bổ sung thêm một loài với tên laeta. Loài với tên laeta lại được Caudell mô tả là loài chuẩn của giống Geea với tên Geea conspicua (Uvarov, 1925). Đến năm 1951, Willemse lại mô tả một tên khác là Rammeacris cho giống Ceracris [24].

Như vậy, đến nay giống châu chấu tre Ceracris có 4 tên khác nhau là Ceracris (Walker, 1870) [Ceracris (Kirby, 1910), Ceracris (Kirby, 1914)], Kuthya (Bolivar, 1909) [Kuthya (Bolivar, 1914)], Geea (Caudell, 1921), Rammeacris (Willemse, 1951).

Số loài châu chấu tre Ceracris đã phát hiện được ở Việt Nam

Trên thế giới, đến năm 1925 mới mô tả được 9 loài châu chấu tre Ceracris (Uvarov, 1925). Đến nay, đã mô tả được 20 loài châu chấu tre Ceracris [24]. Tại Pakistan đã ghi nhận có 2 loài châu chấu tre, với loài C. nigricornis có cả hai phân loài (Suhail et al., 1999). Ấn Độ ghi nhận có 3-4 loài, trong đó loài C. nigricornis có cả hai phân loài (Bhowmik, 1985; Chandra et al., 2016; Shishodia et al., 2010; Shishodia , Gupta, 2009).

Ở Việt Nam, các tài liệu đã công bố ghi nhận được số loài châu chấu tre Ceracris không giống nhau. Theo tên ghi trong các tài liệu đã công bố, đợt điều tra cơ bản côn trùng năm 1967-1968 ở miền Bắc có số loài châu chấu tre thuộc giống Ceracris thu được nhiều nhất, tới 5 loài. Đợt điều tra côn trùng hại cây ăn quả năm 1997-1998 trong cả nước có số loài châu chấu tre Ceracris thu được ít nhất (1 loài). Các tài liệu khác còn lại đã phát hiện được 2-4 loài châu chấu tre thuộc giống Ceracris. Loài châu chấu tre được ghi nhận trong nhiều tài liệu nhất là loài C. fasciata (8 tài liệu), loài châu chấu tre C. kiangsu được ghi nhận trong 7 tài liệu và loài châu chấu tre C. hoffmani chỉ được ghi nhận trong 1 tài liệu (bảng 1). Sự khác nhau này có thể là do quy mô điều tra (điểm điều tra thực địa) rất khác nhau.

Như vậy, theo các tài liệu đã công bố, số loài châu chấu tre Ceracris đã phát hiện được ở Việt Nam đến nay là 7 loài (những loài đã được xác định đến tên loài) và một dạng loài (loài chưa xác định được tên loài).

Theo tài liệu phân loại gần đây, loài Ceracris gracilis là tên khác (synonym) của loài Ceracris fasciata [24]. Chuyên khảo về họ chấu chấu của Viện Bảo vệ thực vật (1985) đã xác định dạng loài Ceracris sp. công bố trong tài liệu Viện Bảo vệ thực vật năm 1976 chính là loài Ceracris nigricornis. Điều này có nghĩa là số loài châu chấu tre ghi nhận trong tài liệu của Viện Bảo vệ thực vật (1976) chỉ còn 4 loài như trong chuyên khảo xuất bản năm 1985 (Viện Bảo vệ thực vật, 1985). Theo Uvarov (1925), loài C. versicolor chính là tên khác của loài C. nigricornis. Do đó, số loài châu chấu tre Ceracris trong công bố của Trần Thiếu Dư, Tạ Huy Thịnh (2011) chỉ là 3 loài. Như vậy, cuối cùng, theo tài liệu đã công bố ở Việt Nam đến nay số loài châu chấu tre Ceracris đã phát hiện được 5 loài (C. deflorata, C. fasciata, C. hoffmani, C. kiangsu, C. nigricornis) và 1 dạng loài (Ceracris sp.). Trên cơ sở nghiên cứu mẫu vật thu được ở “Than-Moi, Tonkin”, Uvarov (1925) khẳng định loài châu chấu tre C. nigricornis ở Việt Nam thuộc phân loài C. nigricornis laeta.

Bảng 1. Các loài châu chấu tre Ceracris đã phát hiện được ở Việt Nam

TT

Tên loài châu chấu tre

Các nguồn tài liệu tham khảo

1

2

3

4

5

6

7

8

9

1

Ceracris deflorata (Brunner von Wattenwyl, 1893)

x

x

x

 

 

 

 

 

 

2

Ceracris fasciata (Brunner von Wattenwyl, 1893)

x

x

x

x

x

x

x

x

 

3

Ceracris gracilis Ramme, 1941

x

 

 

 

 

 

 

 

 

4

Ceracris hoffmani Uvarov, 1931

 

 

 

 

 

 

 

 

x

5

Ceracris kiangsu Tsai, 1929

x

x

 

 

x

x

x

x

x

6

Ceracris nigricornis Walker, 1870

 

x

 

 

 

x

x

x

x

7

Ceracris versicolor (Brunner von Wattenwyl, 1893)

 

 

 

 

 

 

x

 

 

8

Ceracris sp.

x

 

 

 

x

 

 

x

 

Số loài của từng tài liệu

5

4

2

1

3

3

4

4

3

        Ghi chú:             1: Viện Bảo vệ thực vật (1976)                         2: Viện Bảo vệ thực vật (1985)

                                   3: Viện Bảo vệ thực vật (1999a)                       4: Viện Bảo vệ thực vật (1999b)

                                   5: Mai Quí và nnk. (1981)                                 6: Lưu Tham Mưu (2000)

                                   7: Trần Thiếu Dư, Tạ Huy Thịnh (2011)          8: Cục Bảo vệ thực vật (2015)

                                   9: Nguyễn Thế Nhã (2003, 2012)                     x: có ghi nhận được

Thông kê từ hơn 200 công trình nghiên cứu về côn trùng hại nông nghiệp ở Việt Nam, đã ghi nhận được thành côn trùng hại trên 72 loài cây trồng. Nhưng nhóm châu chấu tre chỉ ghi nhận được trên 4 loại cây trồng: trên cây lúa có 2 loài (C. fasciata, C. kiangsu), trên cây ngô 1 loài (C. deflorata), trên cây bông và cây lạc mỗi cây đều bắt gặp loài C. fasciata (Phạm văn Lầm, 2013). Điều này cho thấy hầu hết các sinh cảnh nông nghiệp đều không phải là nơi ở phù hợp cho các loài châu chấu tre Ceracris.

Tên gọi tiếng Việt của các loài châu chấu tre Ceracris

Có nhiều công trình công bố về nhóm châu chấu tre Ceracris, nhưng tên Việt Nam cho các loài châu chấu tre Ceracris lại rất khác nhau. Loài C. fasciataC. kiangsu cùng có 3 tên gọi khác nhau; loài C. deflorataC. nigricornis cùng có 2 tên gọi khác nhau và loài C. hoffmani có 1 tên gọi (bảng 2).

Trong các tên Việt Nam đã gọi cho các loài châu chấu tre, có tên gọi quá chung chung như “châu chấu tre” gọi cho các loài C. deflorataC. fasciata; hay tên “châu chấu lưng xanh” gọi cho loài C. nigricornis; có tên gọi lẫn lộn sang nhóm cào cào như “cào cào tre lưng vàng” gọi cho loài C. kiangsu; có tên gọi không đúng đặc điểm của loài như “châu chấu tre lưng vàng” gọi cho loài C. kiangsu.

Dựa vào đặc điểm đặc trưng của loài, tác giả bài viết này đề xuất tên Việt Nam cho các loài châu chấu tre đã phát hiện có ở Việt Nam như sau:

- Loài Ceracris deflorata đã được gọi với các tên là châu chấu tre (Viện Bảo vệ thực vật, 1999a), châu chấu tre nhỏ (Viện Bảo vệ thực vật, 1985). Đề xuất gọi là “châu chấu tre lưng ngực trước vệt xanh”. Theo Viện Bảo vệ thực vật (1985), trên lưng ngực trước có một dải màu xanh lá cây.

- Loài Ceracris fasciata đã được gọi với các tên là châu chấu tre (Viện Bảo vệ thực vật, 1999a), châu chấu tre cánh đen (Phạm Văn Lầm, 2000, Viện Bảo vệ thực vật, 1976), châu chấu tre nhỏ (Viện Bảo vệ thực vật, 1985). Đề xuất gọi là “châu chấu tre nhỏ”. Chỉ loài này có kích thước cơ thể nhỏ nhất trong các loài châu chấu tre đã phát hiện có ở Việt Nam.

- Loài Ceracris hoffmani đã được gọi với tên là châu chấu tre Hofi (Nguyễn Thế Nhã, 2003). Đề xuất gọi là “châu chấu tre cánh ngắn”. Trong các loài châu chấu tre đã phát hiện có ở Việt Nam, chỉ loài này có cánh trước ngắn, thường không đạt tới hoặc vừa đạt tới ngọn đốt đùi chân sau.

- Loài Ceracris kiangsu đã được gọi với các tên là cào cào tre lưng vàng (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011), châu chấu tre lưng vàng (Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ, 2003, Phạm Văn Lầm, 2000, Nguyễn Thế Nhã, 2012, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011, Từ điển bách khoa Bảo vệ thực vật, 1996, Viện Bảo vệ thực vật, 1976, 1985), châu chấu tre sống lưng vàng quảng tây (Mai Quí và nnk., 1981). Đề xuất gọi là “châu chấu tre sống lưng ngực trước vàng”. Tên này dựa vào đặc điểm phân loại của loài là đường sống giữa trên lưng ngực trước có màu vàng (không phải mặt lưng màu vàng như một số tài liệu gọi tên loài này).

- Loài Ceracris nigricornis đã được gọi với các tên là châu chấu lưng xanh (Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ, 2003), Châu chấu tre lưng xanh (Nguyễn Thế Nhã, 2012; Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011; Viện Bảo vệ thực vật, 1985). Đề xuất gọi là “châu chấu tre râu đầu đen”. Từ Latinh “nigricornis” có nghĩa là “sừng đen”, châu chấu không có sừng, nhưng đôi râu đầu cũng tương tự như đôi “sừng”. Mặt khác, trong các loài châu chấu tre đã phát hiện có ở Việt Nam, chỉ loài này có râu đầu màu đen hoàn toàn.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Thiếu Dư, Tạ Huy Thịnh, 2011. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, 86-96.

2. Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ, 2003. Côn trùng học ứng dụng. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

3. Phạm Văn Lầm, 2000. Danh lục các loài sâu hại lúa và thiên địch của chúng ở Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

4. Phạm văn Lầm, 2013. Các loài côn trùng và nhện nhỏ gây hại cây trồng phát hiện ở Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

5. Lưu Tham Mưu, 2000. Động vật chí Việt Nam, tập 7: 13-170.

6. Nguyễn Thế Nhã, 2003. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2: 17-18

7. Nguyễn Thế Nhã, 2012. Côn trùng và động vật hại nông nghiệp Việt Nam (chủ biên: Nguyễn Văn Đĩnh và nnk.), Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 330-332. 

8. Mai Quí, Trần Thị Lài, Trần Thị Bích Lan, 1981. Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 43-245.

9. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011. Từ điển bách khoa Nông nghiệp Việt nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

10. Từ điển bách khoa Bảo vệ thực vật, 1996. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

11. Uvarov B.P., 1925. Entomolog.Mittoilungen, XIV(4):11-17.

12. Viện Bảo vệ thực vật, 1976. Kết quả điều tra côn trùng 1967-1968. Nxb Nông thôn, Hà Nội.

13. Viện Bảo vệ thực vật, 1985. Côn trùng họ châu chấu (Acrididae) ở phía Bắc Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

14. Viện Bảo vệ thực vật, 1999a. Kết quả điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977-1979. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

15. Viện Bảo vệ thực vật, 1999b. Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997-1998. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

16. http://orthoptera.speciesfile.org/Common/basic/Taxa.aspx?TaxonNameID=1103966 (truy cập 28/8/2016).

Nguồn: Tạp chí BVTV số 5/2016, tr.58-60

Các thông tin khác :
· Kiểm tra mô hình tái canh Cà phê tại Đăk Mil và Đăk Song, tỉnh Đăk Nông
· Tập đoàn SOLVAY tới thăm và làm việc với Viện Bảo vệ thực vật
· Hội nghị Khoa học và Công nghệ năm 2017
· HỘI NGHỊ ĐẦU BỜ- MÔ HÌNH QUẢN LÝ SÂU ĐỤC QUẢ VẢI LAI CHÍN SỚM TẠI PHÙ CỪ - HƯNG YÊN
· Thông báo về việc mạo danh Viện Bảo vệ thực vật
· BÁO CÁO NHANH (V/v:Tái bùng phát bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá tại đồng bằng sông Cửu Long năm 2017)
· HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC 6 THÁNG ĐẦU NĂM VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2017
· Diễn biến của bệnh khảm lá vi rút sắn tại Campuchia và nguy cơ lây lan sang Việt Nam
· DỊCH BỆNH LÙN SỌC ĐEN
· Giới thiệu một số nguồn nấm ký sinh côn trùng có tiềm năng...
· Hội thảo tham vấn về tuyến trùng hại hồ tiêu, cà phê và kinh nghiệm phòng trừ tại Tây Nguyên
· THÔNG BÁO MỞ LỚP ĐÀO TẠO NGẮN HẠN VỀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
· THÔNG BÁO MỜI CHÀO HÀNG
· Chuyến thăm của đoàn cán bộ cao cấp của chính phủ Banladesh
· Chuyến thăm của đoàn cán bộ Viện BVTV tới Cục Bảo vệ thực vật
· Tình hình bệnh Vàng lá di động (VLDĐ) trên lúa vụ mùa năm 2013 tại Bắc Giang
· Hội thảo “ Quản lý ruồi đục quả diện rộng góp phần nâng cao chất lượng quả phục vụ xuất khẩu”
· Gặp mặt cán bộ hưu trí và cán bộ được điều động công tác mới