TÌNH HÌNH BỆNH ĐỐM TRẮNG THANH LONG VÀ PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
Ngày đăng : 12/03/2014

 

1. Tình hình bệnh

          Thanh long là một trong những cây ăn quả dễ trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất so với các loại cây trồng khác ở nước ta. Hiện nay, có khoảng trên 30.000 ha được trồng tập trung chủ yếu ở Bình Thuận với diện tích khoảng 20.000 ha, ở Long An có trên 3.200 ha, ở Tiền Giang có khoảng 3.000 ha và rải rác ở một số tỉnh khác. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cây thanh long bị nhiều đối tượng dịch hại gây hại như bệnh thán thư, thối quả, thối cành và đặc biệt là bệnh đốm trắng gây thiệt hại nghiêm trọng về năng suất, chất lượng quả, ảnh hưởng lớn đến tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về bệnh đốm trắng, chưa có giải pháp quản lý bệnh hiệu quả. Bệnh ngày càng nặng, lây lan ngày càng rộng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng triệu nông dân trồng thanh long. Và, nếu không có biện pháp giải quyết kịp thời, chúng ta có nguy cơ sẽ không còn khả năng sản xuất thanh long.

          Bệnh đốm trắng thanh long diễn biến rất phức tạp, lây lan nhanh trên diện rộng, phát triển mạnh vào mùa mưa. Ở một số vườn thanh long mới trồng, bệnh đốm trắng đã xuất hiện trên cành với tỷ lệ bệnh dao động từ 1-5%. Trên một số vườn thanh long kinh doanh, bệnh nặng hơn với tỷ lệ bệnh dao động từ 10-50%. Bệnh phát triển mạnh trên cành non và trên quả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Nếu không bị bệnh, trọng lượng quả đạt ≥600g/quả, đạt tiêu chuẩn loại 1 có giá bán khoảng 15.000đ/kg; lợi nhuận thu được khoảng 200.000.000 đ/ha/lứa. Nếu như quả bị bệnh, hoặc trọng lượng quả <500 g/quả, không đạt tiêu chuẩn loại 1, giá bán rất thấp chỉ đạt 3.000-5.000 đ/kg; dẫn đến thua lỗ lên đến 40.000.000 đ/ha/lứa. Việc thâm canh quá mức, bón phân và sử dụng thuốc BVTV không đúng cách có thể sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình dịch hại và ngày càng khó kiểm soát.

Tại Bình Thuận:

Diện tích trồng thanh long: Chủ trương của tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, có diện tích thanh long là 20.000ha, nhưng đến nay đã xấp xỉ 20.000ha; vì thế, nhu cầu về tăng diện tích là không được ưu tiên và tập trung tăng chất lượng quả để đáp ứng được yêu cầu của nhiều thị trường trên thế giới. Phấn đấu đến năm 2015, sản lượng thanh long xuất khẩu chính ngạch đạt 100.000 tấn với giá trị ước tính khoảng 56 triệu Đô la Mỹ; trong đó, nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thanh long vào thị trường Châu Âu, Hoa Kỳ từ 10% lên 15%; phấn đấu đến năm 2020, sản lượng thanh long xuất khẩu chính ngạch đạt mức 180.000 tấn với giá trị khoảng 100 triệu Đô la Mỹ. Thanh long của Bình Thuận đã được tiêu thụ trên 14 nước; trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trưởng chủ yếu chiếm >80% tổng số. Theo tỉnh Bình Thuận, thì tương lai xuất khẩu sang Trung Quốc là rủi ro vì Trung Quốc đang phát triển các vùng sản xuất thanh long, chưa tính đến ảnh hưởng của bệnh đốm trắng thanh long đã làm giảm giá rất nhiều so với thanh long không bị bệnh, khó tiêu thụ và khó xuất khẩu.

Tại Châu Thành - Long An: số liệu điều tra của Trung tâm Bảo vệ thực vật Nam Bộ -Viện BVTV và Trạm Bảo vệ thực vật Châu Thành-Long An cho thấy

Tính đến đầu năm 2012, diện tích trồng thanh long của Long An là 1.478,52 ha; tỷ lệ vườn bị nhiễm bệnh chiếm khoảng 10%. Đến giữa năm 2012, diện tính trồng thanh long đã lên đến 2150ha và có khoảng 860ha bị nhiễm bệnh rải rác (chiếm 40%), trong đó có 43ha gây hại trên quả. Đến đầu năm 2014, diện tính thanh long đã lên đến 3248.

Triệu chứng ban đầu xuất hiện ở phân gốc của bẹ non mới mọc. Sau đó, xuất hiện trên nụ bông, quả non. Triệu chứng là những vết đốm tròn nhỏ màu trắng, vết bệnh lõm sâu vào trong và thấp so với bề mặt bẹ; về sau, vết bệnh chuyển sang màu vàng cam và phát triển thành màu nâu nổi lên trên bề mặt (Hình 1, 2). Bệnh đốm trắng do nấm Neoscytalidium dimidiatum (thuộc họ Botryosphaeriaceae; bộ Botryosphaeriales; lớp nấm túi Ascomycetes) gây ra, tồn tại quanh năm trên đồng (mùa khô tập trung chủ yếu ở các đoạn gốc cành) khi mùa mưa tới thì bệnh lan sang các cành non mới ra, hoa và quả. Theo kết quả điều tra của Viện BVTV: Bên cạnh sự xâm nhiễm của bệnh đốm trắng thì các loại bệnh khác đã cùng hiện diện và gây hại như bệnh thán thư, bệnh thối vi khuẩn. Vậy, đâu là nguyên nhân trước, sau gây thiệt hại đến sinh trưởng và phát triển của cành, chất lượng quả??) là câu hỏi được đặt ra phải nghiên cứu tìm nguyên nhân???

2. Quy trình tạm thời phòng chống bệnh đốm trắng thanh long của Cục BVTV đề xuất và việc thực hiện ngoài sản xuất

- Tỉa bỏ và tiêu huỷ bằng cách chôn sâu hoặc đốt cành, nụ bông, trái bị nhiễm bệnh. Tuyệt đối không được vứt bỏ trên mặt liếp hay xuống mương nước vì sẽ làm lây lan nguồn bệnh. Ngoài ra, nên tỉa loại bỏ bớt những cành vô hiệu, cành ốm yếu, cành nằm sâu bên trong tán để tạo điều kiện thông thoáng cho vườn cây và phun sát trùng vết thương bằng nhóm thuốc gốc đồng.

- Nên bón vôi cho toàn bộ vườn định kỳ 1-2 lần/ năm vào đầu và cuối mùa mưa.

- Bón phân cân đối, đầy đủ theo quy trình kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn khuyến cáo. Chú ý không nên bón quá nhiều phân đạm để thúc cây ra đọt non và bón bổ sung nhiều phân hữu cơ hoai mục kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma cho cây.

- Dọn sạch cỏ và tạo điều kiện thoát nước tốt, nhanh chóng cho vườn thanh long trong điều kiện mưa bão. Đối với những vườn được trồng bằng trụ sống phải khống chế tối đa sự che phủ phía trên đầu (đỉnh) trụ để tạo điều kiện thuận lợi cho cành thanh long có thể nhận ánh sáng được đầy đủ hơn.

- Tăng cường chăm sóc vườn cây trong điều kiện mùa mưa.

- Khi cây ra đọt non có thể phun ngừa luân phiên các loại thuốc BVTV có chứa hoạt chất Propiconazole, Trifloxystrobin, Iprodione, Mancozeb 7-10 ngày/lần (tuỳ vào điều kiện mưa bão).

- Ngoài ra, nên rút râu bông thanh long sớm ở thời điểm 2-3 ngày sau trổ và phun ngừa các loại thuốc nêu trên cho giai đoạn trái non và trái chuẩn bị thu hoạch. Lưu ý khi phun xịt thuốc ở giai đoạn chuẩn bị thu hoạch trái phải tuyệt đối tuân thủ và đảm bảo thời gian cách ly thuốc an toàn

Quy trình tạm thời là phù hợp trong hoàn cảnh (khi chưa có nghiên cứu bài bản về vấn đề này tại Việt Nam)

Việc áp dụng của người trồng thanh long ở các vùng như sau:

- Đã tỉa bộ phận bị bệnh, hoa, lặt râu… nhưng vứt bừa bãi trên đồng, bờ mương (Tại Bình Thuận, người dân đang không biết chôn lấp ở đâu cho hết?)

- Phun thuốc liên tục các loại là Benomyl, Rhidomil Gold, Topxin, MAP Hero, Bộ 3 Cát Tường,…nhân dân thay thuốc liên tục, cứ  3, 5, 7 ngày/lần trong mùa mưa (có nơi phun cả mùa khô) (trên cây, cành mang quả và quả, lần phun nào cũng kết hợp với thuốc kích thích sinh trưởng) (Thuốc kích thích được sử dụng nhiều: 5-10 gói GA3, Miracle-Gro… được phun kèm với mỗi lần phun thuốc trừ bệnh, cao gấp 5 lần so với khuyến cáo.

-Tưới nước theo rãnh, có nơi tưới phun mưa lên tán cây sử dụng nước rãnh, kênh có thể có chứa nguồn bệnh từ những bộ phận thân, cành đã bị nhiễm bệnh.

3. Đề xuất của Viện BVTV trước mắt cho việc quản lý bệnh như sau

+ Tăng cường sử dụng phân hữu cơ hoai mục đã được ủ bằng chế phẩm sinh học Trichoderma trong 2 tháng trước khi bón nhằm tăng hàm lượng nấm có ích trong phân chuồng để quản lý nguồn bệnh tồn tại trong đất.

+ Dọn vệ sinh vườn: Phải tiến hành cắt tỉa, bộ phận bị bệnh, phải thu gom ngay sau khi đốn tỉa, lặt râu, sau đó có phương án ủ làm phân (tiêu hủy) cắt nguồn bệnh (Ủ phân nên sử dụng có nấm Trichoderma) giảm nguồn bệnh. Nếu cứ để như hiện nay thì vô hình dung làm cho nguồn bệnh có điều kiện nhân lên nhiều lần so với để tự nhiên (còn có ánh sang giảm khả năng nhân và lây lan nguồn bệnh). Khi đánh đống cây còn xanh rất lâu; tạo điều kiện tốt về ôn, ẩm độ để nấm sinh trưởng, phát triển và phát tán.

+ Phun thuốc: Các loại thuốc có hiệu quả hạn chế bệnh; tuy nhiên, kỹ thuật phun cần lưu ý là: Do bệnh nằm sâu trong góc kín của cây (ổ dịch ban đầu), cây quá lớn, già cỗi nên độ lưu dẫn của cây kém; cây quá rậm rạp đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp xúc của thuốc với bệnh? Vì thế kỹ thuật phun phải đảm bảo thuốc tấn công được vào phần có nấm bệnh (Tùy tuổi của cây và độ che phủ của tán) quyết định liều lượng thuốc cho phù hợp, thuốc phải tiếp cận được với ổ bệnh).

+ Khi chưa nắm rõ các tác nhân còn lại (chính hay phụ?): việc khuyến cáo về thuốc cùng sẽ chưa thực sự có hiệu quả (Phải nghiên cứu xác định nguyên nhân chính – phụ hoặc phụ - chính?)

+ Khi chưa nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa thể biết chính xác nguyên nhân gây bùng phát bệnh; lây lan, …vì thế, thì các giải pháp tạm thời chỉ là để hạn chế bệnh chứ không thể quản lý triệt để được bệnh. Năm 2014 mùa mưa đến bệnh sẽ còn gây hại thanh long

Chúng tôi đề xuất về việc cần làm như sau để phòng chống bệnh:

+ Tuân thủ theo QT của Cục BVTV, nhưng phải vệ sinh và đặc biệt có phương án tiêu hủy nguồn bệnh chứ không vứt bừa bãi ngoài sản xuất như hiện nay.

+ Tìm ngay được loại thuốc có hiệu quả (như khuyến cáo của Đài Loan 32.5% Azoxystrobin (thuộc nhóm Strobilurin) + Difenoconazole (thuộc nhóm Triazole) (SC), hoặc 40% Iminoctadine (WG) có khả năng hạn chế sự phát triển của sợi nấm và sự nảy mầm của bào tử. Nên tham khảo nghiên cứu của Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia

+ Hạn chế việc dùng thuốc của nông dân như hiện nay. Quan tâm đến kỹ thuật, liều lượng, cach phun và thời điểm phun có hiệu quả.

+ Chăm sóc sử dụng phân chuồng hoai mục có ủ bằng nấm có ích Trichoderma hơn là vôi bột.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BỆNH ĐỐM TẮNG THANH LONG

 

  

                    Vết bệnh hại trên cành....                                        TRên quả thanh long

Tàn dư bệnh không được thu gom, xử lý hợp lý là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh đốm trắng thanh long

   

Vết bệnh thường nằm sâu trong kẽ, gốc lá.....                Tuy nhiên thuốc lại chỉ được xử lý trên trên bề mặt, phía đầu lá... là một trong những nguyên nhân làm cho việc phòng trừ bệnh chưa đạt hiệu quả cao.

VIỆN BẢO VỆ THỰC VẬT

Các thông tin khác :
· Hội nghị Khoa học và Công nghệ Viện BVTV năm 2013
· Thay đổi địa chỉ của Viện BVTV
· Hội thảo quốc tế về quản lý bệnh hại lạc
· Hội nghị “Các giải pháp phòng trừ sâu ong Shizocera sp. hại cây mỡ” tại Bắc Kạn
· KẾT QUẢ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ BỆNH HẠI LẠC
· HỘI NGHỊ ĐẦU BỜ “Giới thiệu Mô hình áp dụng các kỹ thuật phòng trừ bọ ánh kim hại hồi ở Lạng Sơn”
· LIÊN HOAN CHIA TAY NGÀI GEOFF MORRIS, TRƯỞNG ĐẠI DIỆN ACIAR TẠI VIỆT NAM
· Thăm mô hình ứng dụng các biện pháp thân thiện với môi trường trong phòng chống bệnh mốc sương và thán thư trên cà chua và ớt
· Chọn tạo giống lúa chống chịu rầy nâu
· Giới thiệu một số nguồn nấm ký sinh côn trùng có tiềm năng...
· Hội thảo tham vấn về tuyến trùng hại hồ tiêu, cà phê và kinh nghiệm phòng trừ tại Tây Nguyên
· THÔNG BÁO MỞ LỚP ĐÀO TẠO NGẮN HẠN VỀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
· THÔNG BÁO MỜI CHÀO HÀNG
· Chuyến thăm của đoàn cán bộ cao cấp của chính phủ Banladesh
· Chuyến thăm của đoàn cán bộ Viện BVTV tới Cục Bảo vệ thực vật
· Tình hình bệnh Vàng lá di động (VLDĐ) trên lúa vụ mùa năm 2013 tại Bắc Giang
· Hội thảo “ Quản lý ruồi đục quả diện rộng góp phần nâng cao chất lượng quả phục vụ xuất khẩu”
· Gặp mặt cán bộ hưu trí và cán bộ được điều động công tác mới